Chắp Cánh Thương Hiệu

Kết Nối Tinh Hoa

Địa chỉ: Số 51 Đ. Bát Tràng, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội 
0949.808.555
30 Tháng 09, 2026

Đền Mẫu Bát Tràng theo hồi bút "Đời Tôi"

Sắc phong năm Khải Định thứ 9 (1925)

 

Đền Mẫu Bát Tràng theo hồi ký “Đời Tôi” – Vũ Văn Giần

 

Battrang 360* - Sự tích Thánh Mẫu Bát Tràng có nhiều dị bản. Trong đồng có dị, trong dị có đồng; Thánh Mẫu Bản Hương uy linh hiển hách. Ngài độ âm độ dương cho dân thôn bản hạt Bát Tràng và suốt cả một dải dọc theo bờ Sông Hồng. Thần tích về đức Thánh Mẫu đã ghi rõ tại Đền Bát Tràng. Dưới đây, Battrang 360* xin trích giới thiệu nguyên văn phần ghi chép về Đền Mẫu Bát Tràng trong cuốn tự truyền “Đời Tôi” của cụ Vũ Văn Giần, người làng Bát Tràng sống vào thời kỳ đầu thế kỷ XX (bản chép tay). Thời gian đã đổi thay, ngôn ngữ được sử dụng có thể sẽ gây khó hiểu nhưng để tri ân Cố Tác giả - Cụ Vũ Văn Giần chúng tôi trân trọng được chép nguyên văn không tự ý chỉnh sửa. Kính cẩn trước vong linh Cụ, tạ ơn Cụ đã tỉ mỉ ghi chép một thời đoạn lịch sử của Bát Tràng bằng cả một tình yêu vĩ đại để hậu thế được hiểu, được biết về lịch sử quê mình.

 

Nhân đây, Battrang 360* cũng xin chân thành cảm ơn gia đình ông bà Tiến Ngân đã dành tặng chúng tôi bộ sách tư liệu quý giá này.

 

NGÔI ĐỀN LÀNG TÔI (1)

 

Sát liền với chùa làng tôi về bên tay trái có một ngôi Đền. Nói đến Đền là chúng ta ai cũng nghĩ đến là nơi thờ một vị thần linh nào đó và nghĩ ngay tới chuyện lên đồng, lên bong, chuyển bệnh trừ tà. Ngay cả các ngôi đền to lớn như Đền Vạn Kiếp, Đền Sòng, Đền Phố Cát… cũng vậy. Đền nào cũng thế vậy. Ngoài sự thờ cúng thần linh chính có có thờ them nào là Tam Phủ, Tứ Phủ… Đền làng tôi cũng vậy.

 

Đền làng tôi thờ một vị thần linh chính, là người làng, là một vị nữ thần, người làng vẫn quen gọi là Bà Quận Bản Hương, Mẫu Bản Hương hay là Mẹ Bản Hương.

 

Ngài Mẫu Bản Hương này có một huyền sử mà người làng tôi thường nói đến, nhất là các bà những lúc nhàn rỗi thường đem ra làm đề tài nói chuyện, nhất là về chuyện linh thiêng thì mỗi bà lại có một vài câu chuyện đem ra kể lại cho người khác nghe.

 

Về huyền sử tôi được nghe kể lại như sau:

 

Ngài là người con gái duy nhất của một thầy Phù Thủy có tiếng là cao tay nhất làng và nhất vùng, tuy đã quá tuổi cập kê nhưng Ngài không chịu lập gia đình, lúc nào cũng muốn ở bên người cha già để phụng dưỡng. Một hôm cụ cha già đi vắng, Ngài lên lau chùi và quét tước điện thờ, lỡ tay chạm vào cái chuông thành tiếng kêu như lúc thỉnh chuông. Mỗi khi nghe tiếng chuông là âm binh hiện lên để thầy truyền việc. Thấy thầy không có nhà, âm binh hỏi là bà triệu lên để truyền dạy việc gì? Việc đã chót lỡ rồi, bà nhanh trí trả lời rằng: “Thầy đi vắng, có dặn tôi mời các ngài lên đánh hộ mấy cây cau ở đường trước ra đường sau nhà”. Chỉ một khoảnh khắc thôi, mấy cây cau đã được chuyển xuống sân sau, trồng ngay ngắn như đã trồng ở đó từ khi cây còn nhỏ chứ không có vết tích gì là mới di dời từ trước ra sau nhà.

 

Khi cụ Thầy Bồi (tên ông thầy phù thủy thân phụ bà Mẫu Bản Hương) về đến nhà, hỏi ra mới biết cơ sự như vậy. Thầy làm lễ để khao âm binh rồi truyền cho âm binh trồng trả lại các cây cau về chỗ cũ ở sân phía trước.

 

Từ đó, cụ Thầy Bồi ngày đêm suy nghĩ: Con gái mình đã lớn lại xinh đẹp đâu có xấu gì mà sao nhất định không chịu lấy chồng. Muốn lấy Vua lấy chúa Thầy cũng có cách làm cho Vua chúa phải tìm đến cầu xin và cưới hỏi.

 

Một hôm cụ Thầy Bồi hỏi con gái là muốn được vinh hoa nhất thời hay vạn đại? Bà trả lời muốn được vinh quang vạn đại. Hỏi đi hỏi lại bà cũng nhất quyết như vậy.

 

Sau khi bà mất, cụ Thầy Bồi triệu âm binh đưa bà về bên kia thế giới. Còn xác thì thiêu thành tro rồi luyện phép suốt một trăm ngày, chỉ để lại một phần nhỏ tro đã thiêu, còn đúng ngày đem lên núi Thiên Thai thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, tung tro ra cho bay theo gió. Tro bay tới đâu là dân ở đó lập Đền thờ. Ngày tung tro không gặp ngày có gió lớn nên tro chỉ bay được đến có 72 làng. Và hiện nay, 72 làng thuộc hai huyện Gia Bình và Siêu Loại còn có Đền thờ bà Mẫu Bản Hương làng tôi.

 

Những gì đã gọi là huyền sử dĩ nhiên là có sự mơ hồ. Nhất là khi xưa, thuở đó thần quyền còn mạnh mà ngay cả đến ngày nay câu chuyện về thế giới vô hình khoa học nhiều cái cũng chưa giải thích được; mà nó lại có chứ không phải là hoàn toàn không.

 

Viết về những chuyện xa xưa, khi đó thần quyền còn mạnh, kể những những chuyện tai được nghe, mắt được thấy, tránh sao cho người đọc không cho mình là mê tín dị đoan, vẽ rắn thêm chân, vẽ rồng thêm cánh, thật là cả một vấn đề. Tôi là con người hiểu biết, mà lại biết một cách tường tận về các bệnh tật do vi trùng gây ra của một bệnh thời khí (Maladie épidémique) mà tôi sẽ kể ở sau có liên quan đến sự hiển linh của bà Mẫu Bản Hương.

 

Thuở đó, khi tôi độ 15,16 tuổi, làng tôi bị bệnh thời khí, bệnh dịch tả lan tràn, ngày nào cũng có một vài người chết vì bệnh tả. Công việc y tế chưa phổ cập đến các xã các làng. Người dân chỉ trông cậy vào thuốc Đông y và lễ bái. Trong lúc quá hoang mang, một số người làng và hương chức xuống đền cầu xin sự che trở của thần linh. Trong khi còn đang lễ bái, có một bà được bóng đức Mẫu Bản Hương nhập vào và phán rằng: “Các Quan còn đóng trên nhà anh Nghè, phải lên đó van vái cầu xin mới được”. Truyền xong là bóng thăng. (Nhà anh Nghè chính là nhà thờ cụ Tứ đại tôi – Tiến sỹ Vũ Tuấn)

 

Ngay sau đó các ông bà đi lễ bái vội vàng sửa soạn vàng hương trầu rượu lên cầu xin “các Quan” ở nhà thợ Cụ Lớn tôi, lúc đầu xin âm dương không được lại van xin, âm dương cũng không được, sau van ván mãi hai đồng tiền để xin âm dương mới được một đồng sấp một đồng ngửa (có nghĩa là chấp thuận)

 

Cũng thật là kỳ dị, không biết là do sự linh ứng thiêng liêng hay là một sự ngẫu nhiên nào, ngay sau đó làng tôi không còn người nào chết vì bệnh tả nữa. Người đang bệnh thì sau khỏi bệnh và không phát thêm người bị bệnh mới. Trong đại gia đình tôi cũng khá đông người, không ai bị mắc bệnh hay là chết choc về bệnh dịch tả này. Ngay đến bây giờ, hồi tưởng lại, tôi vẫn phải suy nghĩ về hiện tượng này mà vẫn chưa tìm được một câu giải đáp cho ổn thỏa.

 

Đền làng tôi khi xưa chỉ là một cái miễu, một cái miễu xây cất thành một ngôi đền nguy nga đẹp đẽ cũng có một sự tích:

 

Nước ta thuở xưa, không kể thời Bắc Thuộc, ngay đến khi đã gọi là một nước độc lập rồi vẫn còn phải tự ép mình làm một phiên bang, phải triều cống nước Tàu. Qua nhiều triều đại, ngay đến cả triều Nguyễn vừa qua cũng vẫn còn phải giữ lệ đó, tôi không rõ thời gian là bao lâu lại phải một lần triều cống. Về đời Vua Tự Đức, Cụ Lớn tôi phải thừa lệnh Vua cầm đầu một Sứ Bộ (cũng như một phái đoàn ngày nay) sang triều cống Vua nhà Mãn Thanh bên Tàu.

 

Khi xưa cả ta lẫn Tàu làm gì có phương tiện vận tải và đường giao thông thuận tiện như ngày nay, đi bộ thì chỉ có một phương tiện là dùng ngựa, đường thủy thì dùng thuyền. Một Sứ Bộ còn có cả một đoàn tùy tùng để vận tải đồ tiến cống, đi từ Thuận Hóa (Huế) sang tận Yên Kinh (Bắc Kinh), đường sá xa xôi, núi sông hiểm trở, thật là cả một công trình. Thời gian hoàn tất công tác, cả đi lẫn về thường mất gần một năm trời. Thêm vào đó, cả một lộ trình và thời gian dài giằng giặc như vậy biết  bao sự bất trắc ở dọc đường, triều Mãn Thanh ngày đó nước Tàu không được an ninh, có nhiều giặc cướp.

 

Lãnh một sứ mạng nặng nề như vậy, dĩ nhiên Cụ Lớn tôi có lo lắng. Trước khi đi, khi xưa ai chẳng cầu khấn quỷ thần phò hộ cho mình. Trong làng có một ngôi Miễu có tiếng là linh thiêng, Cụ Lớn tôi có đến ngôi miễu này lễ để xin thần linh phù hộ.

 

Là một vị đại thần, lãnh sứ mạng của Vua, thuở xưa là quan trọng lắm, đi qua nơi nào quan tư địa phương còn phải nghênh tiếp và hộ tống, thần linh cũng phải có xứ mạng thiêng liêng hỗ trợ nên khi đến lễ ở miễu làng, Cụ Lớn tôi có cầu khấn đại loại như thế này: “Xin chị phù hộ cho em được đi đến nơi về đến chốn, tai qua nạn khỏi xong việc trở về em hứa sẽ trùng tu ngôi miễu này thành một ngôi đền nguy nga đẹp đẽ để làm nơi thờ phượng chị”.

 

Mỗi khóa sứ ngay xưa đi về chỉ mất độ một năm. Khóa Cụ Lớn tôi phụng hành phải mất ba năm mới hoàn thành sứ mạng. Vì gặp nhiều trở ngại dọc đường. Trong suốt lộ trình có sự khó khăn lại được bà Mẫu Bản Hương báo mộng cho biết trước hoặc là hiển linh phò hộ, có khi cả trong vấn đề văn chương đối đáp, ngâm vịnh. (Các chuyện này có ghi chép trong bộ “Bạch Sơn Tùng Lục” của gia đình tôi – Cụ Lớn tôi có hiệu là Bạch Sơn). Mong và nhớ Sứ Bộ, Vua Tự Đức có làm nhiều bài thơ. Chuyện Cụ Lớn tôi đi sứ Tàu này có ghi chép trong quyển Quốc Triều Đăng Khoa Lục do cụ Cử Liêm phiên dịch và Bộ Văn Hóa Giáo Dục xuất bản (Quyển này có bán ở các hiệu sách lớn ở Saigon – Lời tác giả, sinh thời tác giả sinh sống tại Sài Gòn)

 

Khi sứ mạng đã hoàn thành, trở về với một kết quả đẹp đẽ. Giữ lời hứa và để đền ơn, Cụ Lớn tôi cho xây cất ngay ngôi Đền này, trong có nhà Cung, ngoài là tiến tế, ngoài cùng là cửa Tam quan và có cả nhà bếp nữa.

 

Bà Mẫu Bản Hương làng tôi cũng được phong sắc, trược tiên được phong “Quận Chúa”, về sau được phong “Thượng Đẳng Linh Thần”, ngày Thánh Đản của Ngài Mẫu Bản Hương làng tôi là ngày 24 tháng Chín. Ngày đó làng tôi có tế lễ và mở hội, tôi sẽ nói ở mục các tiết lễ trong làng. Mỗi năm, cũng ngày 24 tháng Chín này, sau việc tế lễ, ban chấp hành có theo tục lệ đem phần biếu đến biếu ở nhà thờ Cụ Lớn tôi để ghi công đức việc trùng tu và cung tiến ngôi Đền này.

 

Ngôi Đền này còn có một cơ sở phụ, ở trên phía đầu làng tôi, làng tôi vẫn gọi là nhà Cụ Quận (2). Nhà thờ này không phải là cơ sở phụng tự công, là của nhóm con cháu họ hàng của Ngài Mẫu Bản Hương lập lên để thờ riêng. Nhà thờ nhỏ thôi nhưng cũng có nhiều người đến lễ bái nhưng không đông bằng ở Đền, ngày nào cũng có người đến lễ bái, không những là các người ở làng tôi mà còn có nhiều người ở các làng khác nữa. Nhất là trong ngày 24 tháng Chín – Hội Đền.

 

----------

(1) Ngôi Đền cổ thờ phụng Mẫu Bản Hương được miêu tả trên đây dân gian Bát Tràng thời kỳ đó gọi là Đền Dưới do ở cuối làng, sát phần đất xã Kim Lan ngày nay. Năm 1958, khi đào sông Bắc Hưng Hải ngôi đền đã bị dỡ và chuyển về vị trí ngày nay.

(2) Nhà Cụ Quận là ngôi Đền Mẫu Bát Tràng ngày nay.

 

Tác giả: Cụ Vũ Văn Giần

Hồi ký “Đời Tôi”

Battrang 360*

www.battrang360.vn

0949808555